cuong_dolla và nguồn gốc của cái tên dollar

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

cuong_dolla và nguồn gốc của cái tên dollar

Bài gửi  cuong_dolla on Mon Oct 19, 2009 7:22 pm

Từ "dollar" có thâm niên cao hơn đơn vị tiền tệ chính thống của nước Mỹ (Mỹ kim) và cả bản thân nước Mỹ rất nhiều. Và oái oăm thay, theo tư liệu của website Washprofile, không hề có thông tin chính xác nào về nguồn gốc của từ này, cũng như của ký hiệu $ mà chúng ta vẫn quen dùng để chỉ đồng dollar, trong đó có đồng USD (United States dollar).
Đang tồn tại một giả thuyết quen thuộc về nguồn gốc từ "dollar": cơ sở để tạo ra thuật ngữ mới này là đồng tiền bạc thaler, hay nói đúng hơn, đồng tiền bạc joachimsthaler, được đúc ở thành phố Joachimsthal (nằm ở vùng Tây Bắc xứ Bohemia cổ xưa (nay là thành phố Jáchymov thuộc CH Czech).

Trong tiếng Anh từ thaler không chỉ được dùng để chỉ đồng joachimsthaler, mà cả đồng peso của Tây Ban Nha và đồng real của Bồ Đào Nha - đó cũng là những đồng tiền bạc lớn, tương đồng về kích thước và trọng lượng với đồng joachimsthaler. Những đồng tiền bạc này từng được lưu hành rộng rãi ở các vùng thuộc địa của Anh quốc ở Bắc Mỹ, khu vực về sau đã hợp thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Giả thuyết này có nhiều tình tiết và bổ trợ đến nỗi có thể buộc ta phải hoài nghi về sự đúng đắn của nó. Thí dụ, đồng dollar từng được nhắc tới trong các tác phẩm của đại văn hào Anh William Shakespeare, cụ thể nhất là trong vở kịch bất hủ "Macbeth". Kịch bản "Macbeth" lần đầu tiên được dàn dựng vào năm 1611, tức là 9 năm trước khi khởi hành con tàu Mayflower chở theo những người Anh đầu tiên sang "thế giới mới" để trở thành những nhà lập quốc huyền thoại của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sau này.

Cũng có một giả thuyết cho rằng, người Mỹ đã lấy tên gọi cho đơn vị tiền tệ của mình không phải trực tiếp từ tiếng Anh hay tiếng Đức mà từ xứ sở Bắc Âu Scandinavia. Ở Thụy Điển và Đan Mạch từng lưu hành đồng tiền thaler mà cư dân địa phương phát âm na ná như người Mỹ phát âm từ "dollar".

Một giả thuyết khác lại cho rằng, ở Bắc Mỹ, từng lưu hành rộng rãi đồng tiền Hà Lan có cách gọi na ná như từ "dollar" và chính từ đó mới nảy sinh ra từ "dollar". Trong bất luận trường hợp nào, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới sử dụng thuật ngữ "dollar" để chỉ đơn vị tiền tệ quốc gia (từ năm 1784, Quốc hội Mỹ đã ra quy định về việc Mỹ kim sẽ được gọi là "dollar" nhưng rất lạ là, chính quyền liên bang chỉ tới nửa sau thế kỷ XIX mới chính thức độc quyền việc phát hành Mỹ kim, trước đó các đồng dollar với đủ kiểu dáng và mệnh giá trong thực tế đã được các ngân hàng tự do phát hành vô tội vạ). Đồng dollar giấy đầu tiên được chính thức in năm 1785.

Cũng bí ẩn như thế là xuất xứ của ký hiệu $. Trong khi đó, thí dụ như xuất xứ của ký hiệu đồng bảng Anh, có trước ký hiệu đồng USD rất lâu, lại cực kỳ rõ ràng - đó biến dạng của chữ cái L, chữ cái đầu tiên trong từ tiếng La tinh Libra - đó là đồng bảng đúc bằng bạc, có giá trị tương tương với đồng bảng Anh.

Theo lý giải chính thống, cơ sở để tạo nên ký hiệu $ là đồng peso Tây Ban Nha - piastre, hay nói đúng hơn là những đồng peso Tây Ban Nha được đúc ở khu vực Mexico hiện đại: đó là chữ P với chữ S - tức là đồng peso ở số nhiều.

Chữ S được đặt lên chữ P và viết giảm thiểu đi. Đôi khi ký hiệu đồng dollar còn được viết với hai gạch thẳng đứng. Hai gạch dọc chồng nhau vào chữ $ phát sinh là bởi trên đồng peso có khắc hai cây cột đá tượng trưng cho xứ sở thuộc địa Anh Gibraltar - tại đó những đồng tiền này được lưu hành với cái tên "đồng dollar với hai cây cột" (Pillar Dollar).

Một giả thuyết khác cho rằng, đồng peso, có mệnh giá bằng 8 real, thường được ký hiệu là P8, hay gần hơn với ký hiệu $ là: /8/. Một số nhà nghiên cứu lịch sử còn đưa ra những ý kiến mạnh bạo hơn: đồng peso của Tây Ban Nha có lẽ đã là đồng tiền quốc tế được lưu hành rộng rãi nhất trong nhiều thế kỷ, được đúc từ thứ bạc được khai thác ở các mỏ trong vùng Potosi (trên lãnh thổ Bolivia hiện đại). Thứ bạc này được ký hiệu là PTSI, trong đó chữ S "quấn quanh" chữ T.

Ngoài ra trên mặt đồng peso đã nổi lên hai cây cột đá tượng trưng cho những mỏm đá mà nhân vật huyền thoại Hy Lạp đã dựng lên trên bờ vịnh Gibraltar để đánh dấu ranh giới của thế giới đã được người Hy Lạp nhận biết (người Tây Ban Nha muốn dùng hình ảnh này để nhấn mạnh rằng họ đã vượt qua được giới hạn Okumenne, tức là ra ngoài giới hạn thế giới cổ đại của người xưa).

Những cây cột này được cuốn bằng những dải băng, trong đó cây cột bên trái với dải băng cuốn trông giống như ký hiệu $. Các chuyên viên của Cục In Khắc Hoa Kỳ (US Bureau of Engraving and Printing), phụ trách việc tạo dáng cho các đồng tiền Mỹ, rất tin tưởng ở giả thuyết này.

Một giả thuyết tương đối phổ biến khác thì lại cho rằng, ký hiệu $ sinh ra từ từ viết tắt của tên gọi Hợp chúng quốc (United States - US): chỉ cần xóa bớt đi phần dưới chữ U và ghép hai cạnh còn lại của chữ U đã bị xoá phần dưới lên chữ S là xong.

Năm 1929 đã xuất bản cuốn sách của Florian Cajori "Lịch sử những ký hiệu toán học" (A History of Mathematical Notations). Ông Cajori đã nghiên cứu hàng trăm thủ bản (bản chép tay) của thế kỷ XVIII nhưng không tìm thấy bất cứ một chứng cứ nào thuyết phục cho giả thuyết về nguồn gốc ký hiệu chữ $ này.

Trong những thập niên gần đây đã xuất hiện một số giả thuyết khác về nguồn gốc ký hiệu chữ $. Nhà nghiên cứu Henry Dreyfuss, tác giả cuốn "Sách về nguồn gốc các ký hiệu" (Symbol Source Book: An Authoritative Guide to International Graphic Symbols) đã dẫn ra những giả thuyết đó. Những người biện hộ cho "giả thuyết bạc" chứng minh rằng, tại các vùng thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ bạc được sử dụng trong các trao đổi thương mại nhiều hơn tiền (khi đó, tiền là của hiếm).

Vì thế, trong các cuốn sổ thanh toán và các lá thư thương vụ thời đó thường hay gặp chữ S, ký hiệu chỉ kim loại bạc (silver) và trên ký hiệu đó hay được ghi đè lên chữ cái U (unit - một miếng, một đơn vị, một thỏi).

Về sau, chữ cái U được ghi xuống dưới và mất đi phần chân nên chuyển thành ký hiệu $. "Giả thuyết Đức" lại cho rằng, ký hiệu $ xuất hiện nhờ những tìm tòi từ một trong những dạng thức của đồng thaler Áo. Trên mặt trước của đồng tiền này có hình chúa Jesus bị đóng đinh câu rút, còn ở mặt sau có hình con rắn quấn quanh cây thánh giá. Chính con rắn này về sau chuyển hoá thành ký hiệu $.

Còn có một "giả thuyết Anh" - theo đó, ký hiệu $ xuất phát từ đồng shilling, được ký hiệu là S, đôi khi được ghép thêm một gạch dọc. Đồng shilling từng được đúc một cách bí mật ở các khu vực thuộc địa Bắc Mỹ vì chính quyền Anh đấu tranh rất nghiêm khắc với những kẻ làm tiền giả.

Có cả một "giả thuyết Bồ Đào Nha". Theo đó, ký hiệu $ được tạo ra từ biểu tượng rất giống với chữ $. Biểu tượng đó đã được dùng như dấu phẩy hoặc dấu chấm hiện đại để viết những chữ số phần chục hoặc phần trăm: thí dụ, 2.31 hay 2,31 đã từng được viết là 2$31.

"Giả thuyết nô lệ" cho rằng, ký hiệu $ là hình ảnh của những cái cùm dành cho người nô lệ và là ký hiệu biến dạng của chữ S, chữ mở đầu từ slave (nô lệ). Và dường như là những chủ nô lệ đã dùng ký hiệu $ trong các cuốn sổ kế toán của họ.

Trong thế kỷ XVIII - XIX tại Mỹ không chỉ đã lưu hành nhiều loại tiền tệ mà nhiều loại hàng hóa đã bán chính thức được sử dụng làm phương tiện thanh toán thay tiền. Có thể ký hiệu $ cũng đã được sử dụng để chỉ những lượng tiền nhất định tương đương với số lượng nô lệ nhất định.

Các tác giả của những công trình nghiên cứu những dấu hiệu bí mật (một trong những cuốn sách mới nhất trong lĩnh vực này là nghiên cứu của tác giả David Ovason "Những biểu tượng bí mật trên đồng dollar" - The Secret Symbols of the Dollar Bill) thường lập luận rằng, ký hiệu $ là mật mã dùng để chỉ nhà thờ vua Solomon, đúng hơn là họ của vua Solomon (S) và hai cây cột của ông. Hàng loạt những biểu tượng có trên tờ USD tương đồng một cách rõ rệt với nhiều mật mã của Hội Tam Điểm. Thêm vào đó, một số những nhà lập quốc của Hoa Kỳ đã từ những thành viên tích cực của Hội Tam Điểm.

"Giả thuyết Rome" cho rằng, ký hiệu $ xuất phát từ đồng tiền bạc sestertius của La Mã cổ đại mà ký hiệu của nó đã là hai chữ cái HS. Tại Mỹ chữ cái H khi ghép với chữ cái S đã bị mất gạch ngang. Đồng bạc sestertius vượt đại dương tới được bến bờ châu Mỹ là bởi khi đó ở đấy có nhiều nhà hoạt động quốc gia thích noi theo hình mẫu nền cộng hòa La Mã - minh chứng cho xu thế này chính là kiến trúc của trụ sở Quốc hội Mỹ trên đồi Capitol và Nhà Trắng...

Trong bất cứ trường hợp nào, hiện nay ký hiệu $ vẫn được sử dụng để chỉ những đồng dollar, không chỉ được phát hành ở Mỹ. Nhà nghiên cứu Arthur Nussbaum, tác giả sách "Lịch sử đồng dollar" (A History of the Dollar), đã đưa ra vô số những thí dụ như thế.

Chẳng hạn như, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX tại Anh đã chính thức phát hành đồng dollar Anh. Năm 1797, nước Anh đã phải đối mặt với nạn thiếu các đồng bạc lẻ và vì thế, buộc phải cho phép lưu hành cả đồng dollar Tây Ban Nha từ dự trữ của Ngân hàng Quốc gia với dòng chữ ghi thêm trên đó "Năm Shilling Dollar Ngân hàng Anh quốc" (Bank of England Five Shilling Dollars).

Một thời gian sau, khoảng năm 1857, các đồng dollar đã xuất hiện ở Canada, khi đó cũng là một thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ, khi vùng lãnh thổ này từ chối hệ thống tiền tệ của Anh. Những đồng dollar đầu tiên của Canada cũng được làm ra ở Anh. Một thời gian sau nữa, Anh cũng đưa ra lưu hành những đồng dollar đặc biệt dành cho Ấn Độ và những vùng thuộc địa viễn đông.

Năm 1935, Anh đưa ra lưu hành đồng West Indies Dollar, sử dụng ở các thuộc địa Anh tại biển Caribbe. Sau khi hệ thống thuộc địa tan rã, những vùng lãnh thổ còn nằm trong quyền cai quản của London (cụ thể là quần đảo Virgin) đã chuyển sang sử dụng USD, còn quần đảo Cayman lại bắt đầu tự phát hành những đồng dollar riêng của mình.

Năm 1961, Australia bắt đầu đưa vào lưu hành đồng dollar riêng (AUD). Năm 1967 đến lượt New Zealand và năm 1970 - Rhodesia (nay là Zimbabwe). Hiện nay đồng dollar được lưu hành ở Fiji, quần đảo Solomon, Tuvalu, Nauru và một số quốc đảo khác nữa trên Thái Bình Dương. Đơn vị tiền tệ quốc gia mang tên dollar hiện được lưu hành ở Namibia, Guiana, Surinam, Singapore, Bruney và ở cả Đài Loan (tổng số khoảng 23 quốc gia và vùng lãnh thổ). Malaysia và cả Mông Cổ cũng cho lưu hành đồng dollar...

Ký hiệu $ hiện nay được sử dụng không chỉ để chỉ đồng dollar. Nó được dùng trong các thương vụ với các đồng peso của Argentina, Chile, Columbia, Dominica, Mexico, Cuba và Urugoay, với đồng real của Brazil, đồng córdoba của Nicaragua... Các nước En Salvador, Ecuador, Đông Timor, Palau, Micronisia và quần đảo Marshall đã từ bỏ đồng tiền quốc gia riêng để sử dụng USD như đơn vị tiền tệ chính thức của mình
avatar
cuong_dolla
Răng nanh
Răng nanh

Nam Leo Tổng số bài gửi : 80
Join date : 13/10/2009
Age : 26
Đến từ : Thanh Hóa

Xem lý lịch thành viên http://mediafire.com/dragon/duza

Về Đầu Trang Go down

Thay vì là dolla nên đổi thành dolly!

Bài gửi  sei on Sun Oct 25, 2009 10:51 pm

Cừu Dolly (5 tháng 7 năm 1996 - 14 tháng 2 năm 2003) là động vật có vú đầu tiên được nhân bản vô tính trên thế giới [1][2]. Nó dược tạo ra bởi Ian Wilmut, Keith Campbell và các cộng sự tại Viện Roslin ở Edinburgh, Scotland.

Thực ra tên của bạn Cường là bắt nguồn từ con cừu Dolly, đề nghị các bạn RHM K7 tôn trọng bạn ý bằng cách gọi bạn ý là Super Sheep
avatar
sei
Ban quản trị
Ban quản trị

Nữ Aries Tổng số bài gửi : 2
Join date : 17/10/2009
Age : 26
Đến từ : Hà Nội, Việt Nam

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cuong_dolla và nguồn gốc của cái tên dollar

Bài gửi  cuong_dolla on Tue Oct 27, 2009 12:26 pm

chậc chậc!! đề nghị bạn đời sống không được nói lung tung nhá Cool Cool
méc công an bây giờ nè Razz Razz
avatar
cuong_dolla
Răng nanh
Răng nanh

Nam Leo Tổng số bài gửi : 80
Join date : 13/10/2009
Age : 26
Đến từ : Thanh Hóa

Xem lý lịch thành viên http://mediafire.com/dragon/duza

Về Đầu Trang Go down

Re: cuong_dolla và nguồn gốc của cái tên dollar

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết